Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM

Chọn loại tìm kiếm
 
  • Site
  • Web
Search
Liên kết website
Logo liên kết
Số người trực tuyến Số người trực tuyến:
Khách thăm Lượt truy cập: 74
Thành viên Các thành viên: 0
Tổng số Tổng số: 74

Đang truy cập Trực tuyến:

Thủy sản là nguồn sinh kế cực kỳ quan trọng của khoảng 10% dân số Việt Nam và kinh tế thủy sản đã có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân. Hiện nay tại nước ta, tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) đang là đối tượng nuôi thay thế dần tôm sú ở các vùng nuôi thâm canh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do tốc độ phát triển nhanh chóng, do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường nhất là hội chứng tôm chết sớm (EMS) đã làm cho ngành nuôi trồng thủy sản nước ta gặp không ít khó khăn. Trong 6 tháng đầu năm 2015, diện tích nuôi tôm chân trắng ước đạt trên 40 nghìn ha, giảm 18,9% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 103,8 nghìn tấn giảm 1,6% (vasep.com.vn). Trước những thách thức mà ngành nuôi tôm gặp phải thì việc ứng dụng những công nghệ nuôi mới vào thực tiễn sản xuất cần được quan tâm hơn. 

Thủy sản cũng là một trong những ngành mũi nhọn trong phát triển nông nghiệp và được chính phủ và các bộ ngành khác quan tâm. Định hướng và chiến lược phát triển thủy sản đã được chính phủ phê duyệt đến năm 2020 với mục tiêu cụ thể là: Ngành thủy sản cơ bản được công nghiệp hóa – hiện đại hóa và tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng bền vững, thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao và hội nhập vững chắc vào kinh tế thế giới. Đồng thời từng bước nâng cao trình độ dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của ngư dân, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và quốc phòng, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc; Kinh tế thủy sản đóng góp 30 – 35% GDP trong khối nông – lâm – ngư nghiệp, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành thủy sản từ 8 – 10%/năm. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8-9 tỷ USD. Tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 – 7 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm 65 – 70% tổng sản lượng. Để đạt được mục tiêu trên thì cách quản lý và thực hành nuôi thân thiện với môi trường có vai trò quan trọng trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững. Một trong những hệ thống nuôi thân thiện với môi trường là công nghệ biofloc (BFT), được coi là công nghệ sinh học theo hướng mới (Avnimelech, 2006), là giải pháp để phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp. 

Những khái niệm khoa học và thực tiễn về công nghệ biofloc được hình thành một cách độc lập vào cùng một thời điểm bởi hai nhóm nghiên cứu vào giữa những năm của thập niên 90. Đó là nhóm do Steve Hopkins chủ trì tại trung tâm nuôi trồng hải sản Waddell, miền Nam Carolina và nhóm do Avnimelech chủ trì tại Israel. Trong cả hai thí nghiệm của hai nhóm nghiên cứu đã nêu, các ao nuôi đều thực hiện chế độ không thay nước hoặc hạn chế thay nước ở mức tối đa. Trong điều kiện đó, chất thải hữu cơ tích lũy trong ao bị phân hủy, ammonium bị nitrate hóa bởi các quần xã vi sinh vật hoạt động mạnh. Quá trình này có thể được áp dụng để thay thế cho các công nghệ truyền thống như thiết lập bể lọc sinh học bên ngoài ao hoặc thay nước thường xuyên cho hệ thống (Avnimelech, 2012). Công nghệ biofloc đã và đang trở nên phổ biến trong nuôi tôm thẻ chân trắng ở Thái Bình Dương. Công nghệ cơ bản được Giáo sư Yoram Avnimelech khởi xướng ở Israel và do Robins McIntosh thực hiện đầu tiên trong nuôi tôm thương phẩm ở Belize. Công nghệ này cũng đã và đang được áp dụng thành công tại các trang trại nuôi tôm ở Indonesia và Malaysia. 

Biofloc là các cụm kết dính bao gồm tảo cát, tảo biển lớn, động vật nguyên sinh, các hạt hữu cơ chết, vi khuẩn. Mỗi hạt floc được gắn kết lại với nhau trong một ma trận lỏng lẻo bởi các chất nhờn được tiết ra từ vi khuẩn, chúng bị ràng buộc bởi các vi sinh vật dạng sợi, hoặc do lực hút tĩnh điện. Công nghệ biofloc ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản được coi là công nghệ sinh học theo hướng mới (Avnimelech, 2006) dựa trên nguyên lý cơ bản của bùn hoạt tính dạng lơ lửng. Công nghệ BFT là giải pháp giải quyết 2 vấn đề: (1) Loại bỏ các chất dinh dưỡng chuyển hóa vào sinh khối vi khuẩn dị dưỡng xử lý nước ao nuôi, (2) Sử dụng Biofloc làm thức ăn bổ sung tại chỗ cho đối tượng nuôi. Chất lượng dinh dưỡng của biofloc rất tốt cho tôm nuôi. Hàm lượng protein khô trong biofloc chiếm khoảng 25-50%, phần lớn nằm trong khoảng 30-45%. Chất béo chiếm từ 0.5-15%, thông thường nằm trong khoảng 1-5%.  Biofloc là một nguồn vitamin và khoáng chất rất tốt, đặc biệt là phosphorus. Do đó, biofloc làm giảm chi phí thức ăn và được coi là giải pháp để phát triển bền vững ngành nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp. 

Công nghệ biofloc kết hợp mật độ thả cao, kiểm soát tỉ lệ C/N và sục khí đủ để duy trì các hạt flocs lơ lửng, có thể giúp kiểm soát chất lượng nước (cụ thể là NH3 và NO2-), giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh, đồng thời giảm lượng thức ăn sử dụng. Sử dụng công nghệ biofloc để nuôi tôm được coi là một giải pháp thực tế, cho phép giảm thiểu các tác động môi trường của nghề nuôi tôm cũng như nguy cơ lây nhiễm bệnh virus. Quần xã vi sinh vật trong hệ thống biofloc không chỉ loại bỏ các chất dinh dưỡng mà còn giúp cải thiện tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của đối tượng nuôi. 

Bình hình nón Imhoff để đo hàm lượng biofloc sau khi để lắng 10-20 phút

Nghề nuôi trồng thủy sản được ước tính đến năm 2050 phải phát triển gấp 5 lần mức hiện tại để cung cấp đủ nguồn thực phẩm có chất lượng, tương ứng với sự gia tăng dân số. Sự phát triển to lớn này cần được đảm bảo tính bền vững của môi trường và xã hội. Công nghệ biofloc đã đáp ứng được điều này khi tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên đất và nước. Với đặc điểm không thay nước hoặc thay nước với mức độ rất nhỏ, hệ thống không chỉ tiết kiệm nguồn nước, mà còn giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Lượng chất thải trong các ao nuôi tôm truyền thống tích tụ thành bùn đáy ao, phải thải bỏ ra môi trường thì trong hệ thống biofloc lại được các vi khuẩn sử dụng và trở thành thức ăn cho tôm nuôi, giúp giảm chi phí sản xuất. Mặc dù còn một số hạn chế, nhưng nếu các ao nuôi tôm theo công nghệ biofloc được quản lí chặt chẽ thì hệ thống biofloc sẽ là một hệ thống nuôi thủy sản bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao và đây cũng làm một trong những triển vọng cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng của nước ta hiện nay.

Phòng Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản - TTNC