Ươm tạo doanh nghiệp - Hiện trạng và một số giải pháp

Ươm tạo doanh nghiệp - Hiện trạng và một số giải pháp

Ban Quản Lý Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao TP.HCM

Ban Quản Lý Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao TP.HCM

Ban Quản Lý Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao TP.HCM
Ban Quản Lý Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao TP.HCM
BAN QUẢN LÝ KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ

Thư viện hình ảnh

Logo Liên Kết

Thống kê truy cập

  • Đang online: 8
  • Thống kê tuần:746
  • Tổng truy cập: 74638
Ươm tạo doanh nghiệp - Hiện trạng và một số giải pháp

Vườn ươm doanh nghiệp là một tổ chức liên kết giữa Trung tâm, viện nghiên cứu, trường đại học, chính quyền và các doanh nghiệp khởi sự (hay các nhóm, cá nhân có ý định thành lập doanh nghiệp). Tổ chức này có mục đích tạo một "lồng ấp", một môi trường "nuôi dưỡng" các doanh nghiệp khởi sự trong một thời gian nhất định để các đối tượng này có thể vượt qua những khó khăn ban đầu, khẳng định sự tồn tại và phát triển như những doanh nghiệp độc lập.

Vườn ươm cung cấp các dịch vụ và cơ sở vật chất cần thiết để hỗ trợ việc khởi nghiệp từ giai đoạn hình thành ý tưởng, phát triển sản phẩm cho đến khi thành lập và phát triển doanh nghiệp thành công. Khái niệm vườn ươm ngày càng trở nên phổ biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Tại Việt nam, trình độ công nghệ từ những năm 1990 đến nay đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành một trong những yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động và mức độ thành công của doanh nghiệp. Sự phát triển khoa học – công nghệ cũng trở thành động lực chính cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt nam trong giai đoạn hiện nay.

Sự phát triển của mô hình Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ tại các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,… đã chứng minh vai trò tích cực của mô hình vườn ươm. Nhìn chung, vai trò của Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ đã giải quyết những vấn đề sau:

- Tạo điều kiện, là chất xúc tác giúp các doanh nghiệp khởi sự thành công, phát triển tinh thần kinh doanh. 
- Công cụ thúc đẩy sáng tạo, đổi mới, chuyển giao công nghệ và thýõng mại hoá thành công các ý týởng công nghệ nhờ gắn kết chắt chẽ hõn môi quan hệ trýờng đại học - viện nghiên cứu – doanh nghiệp. 
- Có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế địa phương. 
- Tác động tích cực tới mối quan hệ Doanh nghiệp- Chính phủ, là nơi kiểm nghiệm sự phù hợp, hiệu quả của các chính sách của chính phủ. 
- Cung cấp quỹ hạt giống (sead funding) cho các doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc giúp đỡ các doanh nghiệp tìm kiếm, gia tăng nguồn vốn hạt giống. 
- Kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp với mạng lưới nguồn lực để gia tăng cơ hội sống sót và tăng trưởng.

Khái niệm Vườn ươm vẫn còn khá mới mẻ ở Việt nam. Tuy nhiên, cũng có một số mô hình vườn ươm đã được xây dựng và phát triển, tập trung ở hai trung tâm chính của Việt Nam là Hà nội và Tp.HCM. Mặc dù số vườn ươm hiện nay chưa nhiều, tạm thời chia làm 3 nhóm: Vườn ươm trong các Khu công nghệ cao, Vườn ươm trong trường đại học và vườn ươm trong doanh nghiệp. Ở phía Bắc có 5 vườn ươm, bao gồm vườn ươm thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Quản lý (CRC) trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Vườn ươm HBI, Vườn ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao Hoà Lạc của Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, 2 vườn ươm còn lại do công ty Công nghệ Tin học Tinh Vân và công ty FPT thành lập. Khu vực phía Nam có 6 vườm ươm là Vườn Ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao thuộc Khu Công nghệ cao (Saigon HiTech Park), Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ thuộc Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh;Vườn ươm Khu Công viên Phần mềm Quang Trung (Software Park), Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ thuộc Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Vườm ươm Khu công nghiệp Tân tạo và Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao thuộc Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay, hệ thống vườn ươm ở Việt Nam đã đa dạng hơn về loại hình, tăng dần về số lượng, được mở rộng cơ sở vật chất, tăng thêm trang thiết bị hiện đại, đồng bộ. Sản phẩm của các vườn ươm cũng ngày càng đa dạng, với nhiều sản phẩm công nghệ cao được áp ụng rộng rãi trên thực tế, đóng góp cho phát triển công nghệ, kinh tế - xã hội của đất nước. Trước năm 2003, Việt Nam chưa có vườn ươm và doanh nghiệp được ươm tạo nào thì đến nay số lượng doanh nghiệp đang được ươm tạo đã tăng lên đáng kể (khoảng trên dưới 30 doanh nghiệp), với số doanh nghiệp được ươm tạo ở mỗi vườn ươm dao động từ 3- 7 doanh nghiệp.

Hoạt động của các vườn ươm đã tạo ra được những chuyển biến mới ban đầu về chất trong cách thức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, tăng cường mạng lưới liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhau và với các đối tác trong và ngoài nước. Mô hình vườn ươm đã lần đầu tiên tạo nên một hệ thống dịch vụ kinh doanh đồng bộ, gắn kết thay vì các mô hình hỗ trợ dịch vụ đơn lẻ. Thông qua các vườn ươm doanh nghiệp, cùng với việc hình thành hệ thống chia sẻ thông tin, các mối liên kết giữa các doanh nghiệp ươm tạo và với các chủ thể khác đã được tăng cường, góp phần tăng năng lực hoạt động, cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong bối cảnh mới (tự do hóa và toàn cầu hóa).

Từ năm 2007 đến nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học – Công nghệ đã triển khai chương trình thử nghiệm vườn ươm doanh nghiệp công nghệ. Sở đã hợp tác và hỗ trợ trường Đại học Nông lâm, trường Đại học Bách Khoa - ĐH Quốc gia, Khu Nông nghiệp Công nghệ cao và các đơn vị có liên quan hình thành 3 mô hình vườn ươm doanh nghiệp công nghệ với các hệ thống hỗ trợ tư vấn, kỹ thuật và dịch vụ đi kèm. Các vườn ươm đã xây dựng khá hoàn thiện về chiến lược hoạt động, lĩnh vực ươm tạo.

Tuy Việt Nam đã đạt được một số thành công trong phát triển hệ thống các vườn ươm song việc xây dựng và phát triển của các vườn ươm doanh nghiệp vẫn còn không ít bất cập, khó khăn.

Công tác triển khai xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, tìm kiếm đối tác, các đơn vị tham gia và vận hành các vườn ươm còn thiếu đồng bộ, vẫn còn bị kéo dài, khiến vườn ươm chậm được đưa vào hoạt động. … Sự chậm trễ trong triển khai các dự án vườn ươm đã và đang làm giảm hiệu quả các dự án tài trợ, gây sức ép đối với hoạt động của các vườn ươm (nhất là nỗ lực tăng thu để tự chủ), kể cả các đơn vị chủ quản và động lực, tinh thần làm việc của bản thân đội ngũ cán bộ quản lý, vận hành vườn ươm.

Việc huy động nguồn tài trợ cho hình thành và hoạt động cho các vườn ươm vẫn còn nhiều khó khăn. Nguồn tài trợ cho các vườn ươm còn rất hạn chế. Nguồn vốn tài trợ từ ngân sách nhà nước, địa phương cho thành lập và hoạt động của nhiều vườm ươm doanh nghiệp hoạt động không vì lợi nhuận còn rất ít, chủ yếu là dành cho mặt bằng và cơ sở nhà xưởng. Đây là điểm khác biệt lớn giữa Việt Nam và nhiều nước, nhất là Trung Quốc - nơi trong giai đoạn 10 năm đầu phát triển, các vườn ươm nhận được sự hỗ trợ toàn diện từ Chính phủ để đảm bảo sự phát tiển bền vững và theo định hướng của Nhà nước, tránh tình trạng phát triển tự phát.

Các nguồn vốn khác tài trợ cho hoạt động vườn ươm, nhất là các vườn ươm công nghệ cao vẫn còn hạn chế. Điều này chủ yếu do khung pháp lý chậm được ban hành, các quỹ hỗ trợ trực tiếp đến nay chưa hoạt động; thiếu nhận thức đầy đủ cuả cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của vườm ươm và lợi ích trong tài trợ cho các vườn ươm,… Việc thị trường chứng khoán còn kém phát triển cũng hạn chế đầu tư mạo hiểm đối với các doanh nghiệp trong vườn ươm. Các loại hình vườn ươm vẫn còn hạn chế. Các vườn ươm hiện hữu phần nhiều là vườn ươm doanh nghiệp công nghệ, chủ yếu công nghệ thông tin.

Hiện tại, vẫn còn bất cập trong thực hiện các vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ trên các phương diện: yếu kém trong thực thi, chưa có qui định rõ ràng về việc phân chia quyền lợi liên quan đến bản quyền khi được ươm tạo thành công cho các bên tham gia vườn ươm. Hầu hết các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể về bản quyền và sở hữu trí tuệ.

Các vườn ươm chưa có đủ mạng lưới chuyên gia và dịch vụ chuyên nghiệp nhằm phục vụ công tác ươm tạo; các dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp còn ở mức cơ bản. Một số vườn ươm còn chậm hình thành pháp nhân. Tiến độ triển khai xây dựng vườn ươm doanh nghiệp công nghệ tại các trường đại học thường chậm so với kế hoạch vì cán bộ kiêm nhiệm nhiều, thời gian dành cho hoạt động của vườn ươm còn hạn chế, mức lương thấp khiến khó tìm được cán bộ quản lý vườn ươm chuyên nghiệp. Chất lượng doanh nghiệp đầu vào còn hạn chế, doanh nghiệp chuẩn bị kế hoạch kinh doanh chưa hoàn chỉnh, mang tính lý thuyết. Kỹ năng quản lý vườn ươm theo mô hình doanh nghiệp (nhưng phi lợi nhuận) còn hạn chế, hệ thống hạ tầng hỗ trợ kỹ thuật (phòng thí nghiệm, mặt bằng sản xuất thử nghiệm…) còn chưa đáp ứng hết nhu cầu của doanh nghiệp.

Khung pháp lý về vườn ươm vẫn còn sơ khai, phạm vi điều chỉnh còn hẹp và chậm được ban hành. Khái niệm về vườn ươm doanh nghiệp công nghệ chưa thực sự rõ ràng, không mang tính pháp định. Các cơ chế khuyến khích cụ thể thành lập, vận hành vườn ươm doanh nghiệp vẫn chưa có. Nhận thức về vai trò, chức năng và các lợi ích kinh tế, kinh tế -xã hội, và công nghệ của các vườn ươm đối với nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trong các cộng đồng vẫn còn hạn chế, ngay đối với các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và chính khách. Điều này có thể làm giảm hiệu quả hoạch định hệ thống thể chế, định chế khuyến khích phát triển các vườn ươm, với một lộ trình thích hợp, hiệu quả. Hơn nữa, tính sẵn sàng sẻ chia cổ phần (chủ sở hữu) và hợp tác kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao cũng ảnh hưởng bất lợi tới việc phát triển vườn ươm, nhất là việc tạo vốn ban đầu.

Một số định hướng, giải pháp:

- Phải nhận thức việc phát triển hệ thống các vườn ươm là nhiệm vụ quan trọng và là một công cụ kinh tế quan trọng hỗ trợ Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 
- Việc cung ứng các dịch vụ ươm tạo doanh nghiệp là một dạng dịch vụ công đặc biệt, có ảnh hưởng sâu rộng tới sự phát triển khu vực doanh nghiệp và phát triển công nghệ, do đó, vai trò của Nhà nước trong tổ chức xây dựng, tài trợ vốn hoạt động là cực kỳ quan trọng trong giai đoạn đoạn đầu phát triển của các vườn ươm. Tuy nhiên, sự can thiệp của Nhà nước cần theo hướng là bảo đảm các các vườn ươm hoạt động có hiệu quả, với đội ngũ quản lý vườn ươm chuyên nghiệp và bảo đảm các vườn ươm đạt sự tự chủ về hoạt động trong dài hạn. 
- Phải xem việc phát triển hệ thống vườn ươm là nền tảng nhằm thương mại hoá công nghệ và thúc đẩy đổi mới, chuyển giao công nghệ. 
- Cần huy động tất cả các nguồn lực, khuyến khích các nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài, Việt kiều, tận dụng và kêu gọi tài trợ từ các nhà tài trợ quốc tế để tăng hiệu quả việc thành lập và vận hành vườn ươm. 
- Địa điểm xây dựng các vườn ươm nên đặt tại Khu công nghệ cao, công viên khoa học, trường đại học, viện nghiên cứu,…nhằm mục đích thúc đẩy phát triển công nghệ, tận dụng các nguồn lực tại chỗ hoặc cận kề; chú trọng phát triển các ngành công nghệ cao, tận dụng công nghệ mới. 
- Thành lập các mô hình vườn ươm từng bước, mang tính thí điểm, thực hiện có hiệu quả, rồi nhân rộng, áp dụng có chọn lọc các chính sách và thông lệ hữu hiệu về thành lập và phát triển vườn ươm trên thế giới. 
- Xây dựng khung pháp lý và chính sách về thành lập và vận hành VƯDN: Các định chế chính và khung pháp lý cho việc thành lập và hoạt động các vườn ươm doanh nghiệp; các cơ chế chính sách tài trợ vốn và khuyến khích thành lập và phát triển vườn ươm: Ban hành các ưu đãi khuyến khích tài chính và tạo cơ chế huy động vốn cho thành lập và hoạt động của vườn ươm; Ưu tiên phát triển một số loại hình vườn ươm; Đẩy mạnh, mở rộng mạng lưới liên kết về các đơn vị tham gia vườm ươm; Lồng ghép có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp với các chương trình phát triển vườn ươm. 
- Xây dựng và ban hành các chính sách ưu đãi đối với cán bộ quản lý và vận hành vườn ươm. Chú trọng công tác đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý vận hành vườn ươm.

TS. Nguyễn Hải An
Giám đốc Trung Tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao 
Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh

Thư viện / Libary